|
Junior Member
Status:
Online
Tham gia ngày: Oct 2019
Bài gửi: 5
Reputation:
|
một số vấn đề về khắc phục tranh chấp mang trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự
cùng sở hữu tầm quan trọng càng ngày càng nâng cao của có trí óc, những tranh chấp về quyền với trí não cũng xảy ra ngày một nhiều hơn. tranh chấp có trí tuệ là một dòng mâu thuẫn dân sự hoặc tranh chấp thương mại cụ thể, do vậy việc khắc phục mẫu mâu thuẫn này dựa trên cơ sở nguyên tắc, lớp lang, giấy tờ được quy định chung trong Bộ luật tố tụng dân sự. bên cạnh đó, đây là dòng mâu thuẫn đặc thù khởi hành từ tính chất vô hình của các đối tượng mang trí tuệ; hơn nữa đây lại là cái mâu thuẫn còn khá mới mẻ. thực tiễn cũng chỉ ra rằng, việc khắc phục các tranh chấp về quyền với trí óc gặp toàn bộ khó khăn. Trong đa dạng cỗi nguồn dẫn đến cạnh tranh, gặp khó khăn trong công đoạn khắc phục cái tranh chấp này, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện cũng là nguyên cớ căn bản.
Bài viết này nhắc đến những trở ngại pháp lý căn bản, quan trọng trong qúa trình khắc phục tranh chấp về quyền sở hữu trí tụê theo giấy má tố tụng dân sự, ngoài ra lại chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa hầu hết trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản luật pháp can hệ.
một. Thẩm quyền giải quyết mâu thuẫn sở hữu trí tuệ
Trong ba chiếc biện pháp được vận dụng để khắc phục các tranh chấp về quyền mang trí não, nhóc con giới giữa giải pháp hình sự và 2 biện pháp còn lại là giải pháp dân sự và giải pháp hành chính khá rõ ràng.[1] bình thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền có công nghiệp bị xử lý hình sự ví như trước đó đã bị xử lý hành chính. khi mà ấy, oắt con giới giữa biện pháp dân sự và giải pháp hành chính lại chưa thật sự rõ ràng, đặc biệt vấn đề các mâu thuẫn nào được khắc phục theo thủ tục tố tụng dân sự và những tranh chấp nào được giải quyết bằng “con đường” hành chính. Hệ quả là, nhiều tranh chấp về quyền với trí não lẽ ra phải được khắc phục theo thủ tụng tố tụng dân sự nhưng lại khắc phục theo hồ sơ hành chính. Theo Con số, trong những năm qua, phần đông các tranh chấp về quyền sở hữu trí óc được giải quyết bằng biện pháp hành chính. ko ít người lo ngại rằng, việc giải quyết những mâu thuẫn về quyền mang trí não đang bị hành chính hoá. Quy định lấp lửng về thẩm quyền dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của những cơ quan, các cơ quan đôi khi thực hiện công tác ko thuộc thẩm quyền của mình, ảnh hưởng tới hiệu quả tình thi quyền sở hữu trí tuệ.
Pháp lệnh bảo hộ quyền với công nghiệp năm 1989 lần trước tiên quy định cho Toà án thẩm quyền xét xử những mâu thuẫn về quyền trí não mà cụ thể là quyền có công nghiệp tại Điều 29. Theo quy định của Pháp lệnh, thẩm quyền xét xử những mâu thuẫn với công nghiệp của Toà án rất hẹp. Cụ thể, Toà án chỉ mang thẩm quyền xét xử bốn cái tranh chấp và vi phạm sau: hành vi xâm phạm quyền có công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ; mâu thuẫn can hệ tới việc đơn vị, tư nhân được chuyển giao quyền dùng đối tượng với công nghiệp phải trả khoản tiền cho chủ văn bằng bảo hộ trong trường hợp đề xuất chuyển giao quyền dùng đối tượng sở hưũ công nghiệp; tranh chấp liên quan tới việc cấp văn bằng bảo hộ cho doanh nghiệp, tư nhân không mang quyền nộp đơn; mâu thuẫn can dự đến việc báo oán lao cho tác kém chất lượng và người thừa kế của tác fake sáng chế, biện pháp có ích, bề ngoài công nghiệp[2].
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định tranh chấp về quyền với trí tụê, chuyển giao kỹ thuật thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án (khoản 40-Điều 25, khoản 2-Điều 29). Bộ luật dân sự năm 1995 và những văn bản chỉ dẫn thi hành về quyền tác nhái và quyền mang công nghiệp trong Bộ luật[3] cũng chỉ quy định: tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, tác giả, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có quyền khởi kiện đề nghị cơ quan nhà nước thẩm quyền bảo vệ quyền của mình khi bị xâm hại; tranh chấp về quyền tác nhái, quyền sở hữu công nghiệp được khắc phục theo hồ sơ tố tụng dân sự[4]. Ngày 21/8/1997, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 97/KHXX xác định thẩm quyền khắc phục mâu thuẫn về quyền tác giả và quyền có công nghiệp. Tiếp đấy, ngày 5/12/2001, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ văn hoá-thông tin đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT về giải quyết các mâu thuẫn can dự đến quyền tác giả tại Toà án quần chúng. #. bên cạnh đó, đông đảo các văn bản luật pháp này cũng chưa quy định rõ, đa số những tranh chấp về quyền có trí óc cụ thể nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo hồ sơ tố tụng dân sự.
Trên cơ sở vật chất các quy định tản mát trong những văn bản luật pháp nhắc trên về thẩm quyền của Toà án trong việc khắc phục tranh chấp quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và thực tiễn nảy sinh, khắc phục các mâu thuẫn này, thẩm quyền theo vụ việc sở hữu thể được xác định như sau:
các tranh chấp về quyền tác fake thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
- tranh chấp giữa các cá nhân, doanh nghiệp nhằm xác định tác giả, đồng tác giả, chủ nhân tác phẩm;
- mâu thuẫn giữa tác nhái, đồng tác kém chất lượng chẳng hề là chủ sở hữu tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm về những quyền nhân thân, quyền tài sản của những chủ thể này;
- tranh chấp về thừa kế quyền tác giả;
- mâu thuẫn phát sinh trong khoảng hợp đồng sử dụng tác phẩm;
- tranh chấp nảy sinh trong khoảng hiệp đồng dịch vụ bản quyền tác giả;
- mâu thuẫn giữa tác nhái, chủ sở hữu tác phẩm gốc có tác nhái, chủ nhân tác phẩm phái sinh (tác phẩm dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn);
- tranh chấp giữa tác fake, chủ nhân tác phẩm sở hữu các người sở hữu quyền kế cận (quyền liên quan tới quyền tác giả) là người trình diễn, đơn vị cung cấp băng ghi âm, ghi hình, công ty phát sóng;
- mâu thuẫn giữa các công ty, cá nhân sở hữu quyền can hệ tới quyền tác nhái, bao gồm: người biểu diễn, công ty sản xuất băng ghi âm, ghi hình, công ty phát sóng và các người khác có hành vi vi phạm quyền của họ;
- tranh chấp giữa tác kém chất lượng, đồng tác nhái có những người với liên quan nhưng không phải là tác kém chất lượng, bao gồm: người sưu tầm tài liệu cho tác kém chất lượng, người phân phối nguồn vốn và phương tiện vật chất khác.
mâu thuẫn về quyền mang công nghiệp thuộc thẩm quyền khắc phục của Toà án
- mâu thuẫn nhằm xác định ai là tác fake, chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp đối tượng với công nghiệp;
- Tác kém chất lượng sáng chế, giải pháp hữu ích, bề ngoài công nghiệp, bề ngoài xếp đặt mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng khởi kiện cá nhân, tổ chức (trong đó bao gồm cả chủ nhân các đối tượng này) xâm phạm quyền tác giả của mình;
- chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháp bổ ích, kiểu dáng công nghiệp, thương hiệu hàng hoá, ngoại hình sắp xếp mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, tên thương nghiệp, bí mật kinh doanh; người có quyền dùng hợp pháp tên gọi nguyên cớ hàng hoá, hướng dẫn địa lý sở hữu khởi kiện tư nhân, công ty xâm phạm quyền với, quyền sử dụng của mình;
- chủ sở hữu những đối tượng có công nghiệp khởi kiện người dùng trước các đối tượng với công nghiệp này trong trường hợp người sử dụng trước chuyển giao quyền tiêu dùng cho người khác hoặc mở rộng khối lượng, phạm vi so với ngày ban bố trong đơn;
- cá nhân, doanh nghiệp khởi kiện cá nhân, công ty khác cản trở, tránh quyền tự do sáng tạo, quyền với những sản phẩm trí tuệ của mình;
- tranh chấp về thừa kế quyền mang công nghiệp;
- mâu thuẫn phát sinh từ hợp đồng chuyển giao quyền mang, quyền tiêu dùng đối tượng sở hưũ công nghiệp (còn gọi là hiệp đồng li-xăng);
- mâu thuẫn về hợp đồng nhà cung cấp đại diện sở hữu công nghiệp;
- tranh chấp về quyền nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ quyền có công nghiệp (Bằng độc quyền hoặc Giấy chứng nhận);
- mâu thuẫn về việc báo thù lao và những khoản phí khác giữa Cục mang trí óc và những chủ thể khác.
Rõ ràng, giả dụ so sánh với quy định của Pháp lệnh bảo hộ quyền với công nghiệp năm 1989, pháp luật hiện hành đã giành cho Toà án thẩm quyền rộng hơn đa số trong việc xét xử những tranh chấp về quyền tác nhái và quyền sở hữu công nghiệp.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Điều 25, Điều 27, Điều 33, Điều 34), thẩm quyền giải quyết các mâu thuẫn với trí tuệ của Toà án được xác định như sau: một.Nếu mâu thuẫn mang trí não thuần tuý là mâu thuẫn dân sự, thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện; hai.Nếu tranh chấp mang trí tuệ thuần tuý là mâu thuẫn dân sự nhưng sở hữu đương sự hoặc đối tượng có trí não ở nước ngoài, thuộc quyền của Toà án cấp tỉnh; 3.Nếu mâu thuẫn sở hữu trí óc giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều mang mục đích lợi nhuận được coi là mâu thuẫn thương nghiệp, kinh doanh và thuộc thẩm quyền của Toà án cấp thức giấc.
hai. Người có quyền khởi kiện mâu thuẫn quyền có trí tuệ
bên cạnh vấn đề thẩm quyền, cần phải quy định rõ người nào có quyền khởi kiện mâu thuẫn về quyền với trí não trước Toà án theo thủ tụng tố tụng dân sự. Vấn đề bên nguyên trong vụ kiện về quyền sở hữu trí óc cũng chưa được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự lúc cho rằng quyền và ích lợi hợp pháp của người đấy bị xâm phạm. Cơ quan, đơn vị do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để buộc phải Toà án bảo vệ lợi ích công cùng, ích lợi của Nhà nước thuộc ngành nghề mình đảm đang cũng là nguyên đơn”. nguyên đơn mang các quyền, phận sự được quy định tại khoản 1, Điều 59-Bộ luật tố tụng dân sự.
Do pháp luật ko quy định ai có quyền khởi kiện mâu thuẫn về quyền sở hữu trí óc, dẫn tới trong thực tại người mang quyền khởi kiện đôi khi bỏ mất quyền khởi kiện hoặc người không với quyền khởi kiện lại khởi kiện nên ko được Toà án khắc phục.
bên nguyên trong vụ án về quyền mang trí tuệ có thể là tác fake, chủ sở hữu đối tượng mang trí tuệ hoặc một số người mang quyền can hệ khác. Cụ thể như sau:
Đối với các mâu thuẫn về quyền tác giả, những người sau đây có quyền khởi kiện:
- Tác nhái cùng lúc là chủ nhân tác phẩm;
- Tác fake ko song song là chủ sở hữu tác phẩm;
- chủ nhân tác phẩm ko đồng thời là tác giả;
- Người được thừa kế của tác giả song song là chủ sở hữu tác phẩm;
- Người sở hữu quyền liên quan đến quyền tác nhái, bao gồm: người biểu diễn; tổ chức cung ứng băng âm thanh, băng hình; đơn vị phát sóng;
- Người mang quyền sử dụng hợp pháp tác phẩm thông qua hiệp đồng dùng tác phẩm;
- tổ chức, tư nhân được những chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của pháp luật.
Đối có tranh chấp về quyền với công nghiệp, những người sau đây có quyền khởi kiện:
- Tác fake sáng chế, giải pháp hữu ích, ngoài mặt công nghiệp, bề ngoài sắp xếp mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng.
- chủ nhân sáng chế, biện pháp có ích, bề ngoài công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng, thương hiệu hàng hoá, tên thương nghiệp, bí hiểm kinh doanh.
- Người sử dụng hợp pháp tên gọi cội nguồn hàng hoá, chỉ dẫn địa lý.
- Người được thừa kế quyền có công nghiệp.
- Người sở hữu quyền dùng hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp duyệt giao kèo li-xăng.
- Người biểu diễn; công ty, tư nhân cung ứng băng thu thanh, ghi hình; công ty phát thanh, truyền hình.
- đơn vị, tư nhân được những chủ thể trên uỷ quyền theo quy định của luật pháp.
khi xác định bên nguyên trong trong chấp về quyền có trí tuệ, cần lưu ý: Đối sở hữu quyền tác fake, quyền khởi kiện buộc phải bảo hộ quyền tác giả phát sinh trong khoảng thời điểm tư nhân sáng tạo ra tác phẩm và biểu thị sự sáng tạo đấy dưới 1 hình thức vật chất nhất quyết. tức thị, nếu một người mang ý tưởng sáng tạo tác phẩm văn chương, nghệ thuật, công nghệ, nhưng chưa bộc lộ ý tưởng này dưới bất kỳ hình thức nào như: giấy, gỗ, vải… thì không thể khởi kiện đề xuất Nhà nước kiểm soát an ninh quyền của mình đối với ý tưởng. Hơn nữa, trong trường hiệp tác fake, chủ nhân tác phẩm khởi kiện cá nhân, doanh nghiệp xâm phạm quyền của họ (trừ những quyền nhân thân quy định tại điểm a, b, đ-khoản 1-Điều 751-Bộ luật dân sự), việc khởi kiện chỉ được chấp thuận trong thời hạn tác phẩm được bảo hộ. Thời hạn đấy là suốt cuộc thế tác nhái và 50 năm sau khi tác nhái chết. Đối sở hữu quyền có công nghiệp, giả dụ tác fake, chủ nhân, người sử dụng hợp pháp đối tượng có công nghiệp khởi kiện công ty, tư nhân khác xâm phạm quyền của mình phải là người đã được cấp Văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp đó; và hành vi vi phạm xảy ra trong thời hạn bảo hộ.
3. bằng chứng
khi giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí óc, cũng như đối với các vụ án dân sự khác, “đương sự sở hữu đề xuất Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra bằng chứng để chứng minh cho yêu cầu đấy là sở hữu căn cứ và hợp pháp. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối sở hữu mình phải chứng minh sự phản đối đó là với căn cứ và phải đưa ra chứng cớ để chứng minh” (Điều 79-Bộ luật tố tụng dân sự). bên cạnh đó, việc chứng minh trong vụ án về quyền với trí não thường khó khăn hơn hầu hết so mang những vụ án dân sự khác.
Theo quy định tại Điều 82-Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, luật pháp thừa nhận chín nguồn bằng chứng mà đương sự được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ chứng minh của mình. Ngoài quy định chung này trong Bộ luật tố tụng dân sự, không sở hữu bất kỳ 1 văn bản luật pháp nào quy định về chứng cứ trong giai đoạn khắc phục tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ[5].
Trong các chiếc chứng cớ được quy định tại Điều 82-Bộ luật tố tụng dân sự, các nguồn sau đây với thể được tiêu dùng khi khắc phục mâu thuẫn về quyền mang trí tuệ: những tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của ngừoi làm cho chứng; kết luận giám định; kết quả định giá tài sản. Tuỳ từng cái mâu thuẫn cụ thể mà bằng cớ được sử dụng khác nhau, đương sự có thể đưa ra 1 hoặc 1 số cái chứng cứ.
Đối mang mâu thuẫn về quyền tác fake, những tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được mang trị giá là chứng cớ bao gồm:
- Giấy chứng thực bản quyền tác kém chất lượng do Cục bản quyền thuộc Bộ Văn hoá-thông tin cấp. Giấy chứng thực bản quyền tác nhái là bằng chứng để chứng minh người sở hữu tên trong Giấy này là tác kém chất lượng của tác phẩm. Trong trường hợp đương sự không làm cho thủ tục đăng ký tại Cục bản quyền tác giả, giả dụ muốn chứng minh là tác fake, đương sự phải chứng minh mình đã thông minh ra tác phẩm và sự thông minh đó đã được định hình dưới 1 hình thức vật chất;
- các tác phẩm văn chương, nghệ thuật, công nghệ mô tả dưới hình thức: bài báo, sách, tạp chí, băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa hình… mang nội dung vi phạm tác phẩm đã được bảo hộ;
- hiệp đồng thuê sáng tạo; hiệp đồng lao đồng và văn bản giao việc trong trường hợp chứng minh tư nhân, công ty là chủ sở hữu tác phẩm;
- di chúc hợp pháp, bản án, quyết định của Toà án về việc chia di sản thừa kế trong trường hợp giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong khoảng thừa kế quyền tác giả;
- giao kèo tiêu dùng tác phẩm trong trường hợp khắc phục tranh chấp về hiệp đồng tiêu dùng tác phẩm;
- hiệp đồng dịch vụ bản quyền tác fake trong trường hợp khắc phục mâu thuẫn về hợp đồng dịch vụ bản quyền tác giả;
- hợp đồng thuê biểu diễn nghệ thuật, hợp đồng doanh nghiệp cung cấp chương trình văn hoá, nghệ thuật; giao kèo cung cấp, phát hành băng thu thanh, ghi hình; hợp đồng trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình trong trường hợp giải quyết mâu thuẫn nảy sinh từ các quan hệ này;
- Hoá đơn trả tiền thù lao, nhuận bút trong trường hợp khắc phục tranh chấp can hệ tới quyền hưởng những khoản này của tác fake.
Đối có tranh chấp về quyền với công nghiệp, những tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được mang trị giá là chứng cứ bao gồm:
- Văn bằng bảo hộ đối tượng với công nghiệp được tiêu dùng để chứng minh người có tên trong văn bằng là tác kém chất lượng, chủ sở hữu đối tượng với công nghiệp. Cụ thể là Bằng độc quyền sáng chế, biện pháp bổ ích, kiểu dáng công nghiệp. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hàng hàng hoá, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi cội nguồn hàng hoá, Giấy chứng thực đăng ký thiết kế xếp đặt mạch tích hợp bán dẫn, Bằng bảo hộ giống cây trồng mới;
- giao kèo thuê sáng tạo; giao kèo lao đồng và văn bản giao việc trong trường hợp chứng minh là chủ nhân đối tượng mang công nghiệp trong trường hợp chứng minh ai là tác nhái, chủ sở hữu đối tượng với công nghiệp;
- chúc thư hợp pháp, bản án, quyết định của Toà án về việc chia di sản thừa kế trong trường hợp khắc phục mâu thuẫn về thừa kế quyền với công nghiệp;
- hiệp đồng chuyển giao quyền mang đối tượng với công nghiệp, giao kèo li-xăng trong trường hợp giải quyết mâu thuẫn nảy sinh từ những hợp đồng này;
- hợp đồng nhà cung cấp đại diện sở hữu công nghiệp trong trường hợp khắc phục tranh chấp phát sinh trong khoảng giao kèo này;
- Đơn và những giấy má khác chứng minh đã nộp đơn;
- những giao kèo, hồ sơ khác về việc mua bán, gửi giữ, quảng cáo, xuất khẩu, nhập cảng hàng hoá/dịch vụ sở hữu gắn đối tượng với công nghiệp đã được bảo hộ trong trường hợp chứng minh hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp;
- những hoá đơn, chứng trong khoảng hợp lệ;
- Danh mục nhãn hàng hàng hoá nức tiếng trong trường hợp chứng minh nhãn hàng hàng hoá, tên thương nghiệp giống hoặc tương tự có nhãn hàng hàng hoá nổi tiếng.
bên cạnh đó, một số vật chứng cũng có thể được dùng. Ví dụ: Hàng hoá gắn đối tượng mang công nghiệp đã được bảo hộ; hàng hoá gắn đối tượng sở hữu công nghiệp bị coi là vi phạm; những khoản thu lợi bất chính…
4. thẩm định
Vấn đề đánh giá thường được đặt ra trong trường hợp đối tượng có trí óc đang mâu thuẫn là đối tượng phức tạp. Theo Điều 90 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, thẩm phán ra quyết định trưng cầu thẩm định theo sự thoả thuận chọn lọc của các bên đương sự hoặc theo đề xuất của một hoặc các đối tác đương sự. Kết luận thẩm định là một nguồn bằng cớ quan trọng. bên cạnh đó, Điều 67 – Bộ luật tố tụng dân sự về người giám định chỉ quy định chung chung “Người thẩm định là người mang tri thức, kinh nghiệm thiết yếu theo quy định của ngành nghề mang đối tượng cần giám định”. cho tới hiện tại, trong ngành nghề sở hưũ trí tuệ, chưa sở hữu quy định cụ thể cơ quan nào với thẩm quyền thẩm định, lớp lang, thủ tục thẩm định ra sao. Trong thực tiễn, thẩm quyền thẩm định đối tượng sở hữu trí óc thuộc về Cục có trí tuệ, khi mà ấy đây lại là 1 cơ quan điều hành nhà nước về có công nghiệp.
Nên quy định một cơ quan độc lập sở hữu thẩm quyền thẩm định đối tượng sở hữu trí não, hành vi xâm phạm quyền với trí não. Đối sở hữu quyền tác kém chất lượng, ấy là cơ quan độc lập thuộc Bộ văn hoá-thông tin, còn đối có quyền với công nghiệp, đấy là cơ quan thuộc Bộ khoa học-công nghệ.
5. Xác định mức đền bù
giấy tờ tố tụng dân sự cho phép tác kém chất lượng, chủ nhân của tác phẩm văn chương, nghệ thuật, công nghệ và tác giả, chủ nhân những đối tượng sở hữu công nghiệp cũng như các chủ thể sở hữu quyền liên quan khác được quyền khởi kiện đề xuất Toà án xác nhận quyền của mình; buộc người sở hữu hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền mang công nghiệp kết thúc hành vi xâm phạm; đề xuất người với hành vi xâm phạm; và buộc người sở hữu hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại. tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể về cách xác định thiệt hại, mức bồi hoàn thiệt hại trong trường hợp quyền với trí tuệ bị xâm hại. giả dụ chỉ căn cứ vào những quy định về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” tại chương 5, phần thứ ba của Bộ luật dân sự sẽ không thoả đáng khi khắc phục vấn đề đền bù thiệt hại do đối tượng mang trí não bị xâm phạm. Hơn nữa, theo nguyên tắc, bên nguyên với phận sự chứng minh mức độ thiệt hại thực tiễn và thiệt hại tiềm ẩn của mình do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp gây ra. tuy nhiên, để chứng minh được điều này là điều ko đơn giản có nguyên đơn.
bây giờ, những Toà án rất lúng túng trong việc khắc phục vấn đề bồi hoàn thiệt hại cho bên nguyên. Trong đông đảo những vụ việc, việc xác định mức bồi thường cho bên nguyên là ko thoả đáng, vì vậy ko bảo vệ được lợi ích chính đáng của họ. Về vấn đề này cần được xác định rõ trong Luật với trí óc đang được xây dựng, hoặc chỉ dẫn xét xử của Toà án quần chúng. # tối cao.
Theo chúng tôi, nên quy định: Thứ nhất, mức bồi hoàn được xác định trên cơ sở tổn thất thực tại mà tác kém chất lượng, chủ sở hữu, người có quyền tiêu dùng hợp pháp đối tượng mang trí não phải gánh chịu do hành vi xâm phạm quyền có trí tuệ. Thứ 2, thiệt hại bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại về ý thức. Thiệt hại về vật chất bao gồm: tổn thất về tài sản, mức sút giảm về thu nhập, lợi nhuận, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, chi phí hợp lý để thuê trạng sư, tổn thất về thời cơ kinh doanh. Thiệt hại về ý thức bao gồm: tổn thất về danh dự, phẩm giá, uy tín, danh tiếng và các tổn thất khác về ý thức.
6. Kết luận
Rõ ràng, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết mâu thuẫn về quyền có trí não theo giấy tờ tố tụng dân sự chưa cụ thể, chưa đa số. Điều này gây cạnh tranh cho những cơ quan khắc phục tranh chấp và cho cả đương sự, làm cho hiệu quả thật thi quyền có trí óc ở nước ta không cao. cho nên, việc hoàn thiện cơ sở vật chất pháp lý cho việc thực thi quyền có trí tuệ tổng thể và khắc phục tranh chấp về quyền mang trí não theo giấy tờ tố tụng dân sự nói riêng khôn xiết cần yếu.
Để bảo đảm giải quyết thấp hơn mâu thuẫn về quyền với trí óc theo thủ tụng tố tụng dân sự, cần phải quy định cụ thể hơn về những vấn đề: một. các mâu thuẫn về quyền với trí tuệ thuộc thẩm quyền khắc phục của Toà án; 2. những công ty, cá nhân với quyền khởi kiện mâu thuẫn về quyền sở hữu trí óc trước Toà án; 3. các chứng cớ đương sự được sử dụng trong thời kỳ chứng minh; 4. Cơ quan sở hữu thẩm quyền đánh giá và lớp lang, hồ sơ giám định; 5. Nguyên tắc đền bù và xác định mức định đền bù lúc quyền mang trí óc bị xâm phạm.
Nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp quyền tác nhái và quyền mang công nghiệp, theo chúng tôi: không nên bổ sung những quy định về những khó khăn được phân tách trên đây vào Bộ luật tố tụng dân sự mà nên theo hướng quy định trong những văn bản chỉ dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và đặc biệt là văn bản hướng dẫn xét xử của Toà án quần chúng. # tối cao (bên cạnh đấy, cũng nên quy định trong văn bản luật pháp nội dung là Luật mang trí tuệ). Bởi vì, Bộ luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý quan trọng nhất trong việc giải quyết những vụ việc dân sự. Bộ luật chỉ quy định chung về nguyên tắc, lớp lang, giấy tờ, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giai đoạn giải quyết vụ việc dân sự mà không quy định cụ thể cho từng vụ án, việc dân sự.
cùng lúc có việc hoàn thiện các quy định luật pháp, cần yếu phải nâng cao trình độ của các quan toà chuyên trách về ngành nghề sở hữu trí não. Điều này góp phần tăng quả khắc phục tranh chấp và làm cho tăng độ tin cậy của các đương sự trong mâu thuẫn về quyền sở hữu trí não./.
[1] Để bảo vệ quyền tác nhái, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 2 tội: tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) và tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (Điều 271). Để bảo kê quyền với trí óc, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định những tội: một. Tội sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng (Điều 156); Tội phân phối, buôn bán hàng fake là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); Tội phân phối, buôn bán hàng kém chất lượng là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc kiểm soát an ninh thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158); Tội lừa dối khách hàng (Điều 162); Tội xâm phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền với công nghiệp (Điều 170); Tội xâm phạm quyền với công nghiệp (Điều 171).
[2] Xem khoản 3-Điều 9; khoản 2-Điều 14; khoản 2 và khoản 3-Điều 28 của Pháp lệnh bảo hộ quyền mang công nghiệp năm 1989.
[3] Nghị định 76-CP ngày 29/11/1996 của Chính Phủ hướng dẫn thi hành 1 số quy định về quyền tác kém chất lượng trong Bộ luật dân sự, Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính Phủ quy định chi tiết về với công nghiệp chỉ quy định
4. Xem Điều 759– Bộ luật dân sự; điểm c-khoản 1, Điều 796– Bộ luật dân sự; điểm c-khoản 1-Điều 800–Bộ luật dân sự; Điều 7- Nghị định 76/CP; Điều 54-Nghị định 63/CP.
5. Dự thảo Luật với trí tuệ cũng quy định về chứng cứ mà đương sự sở hữu quyền sử dụng trong thời kỳ giải quyết mâu thuẫn về quyền có trí não. bên cạnh đó, đây vẫn là quy định qua quýt.
|